Khi thực hiện thủ tục tự công bố sản phẩm, nhiều doanh nghiệp thường thắc mắc bản tự công bố có thời hạn bao lâu, có phải gia hạn định kỳ hay thực hiện lại hồ sơ sau một vài năm hay không. Trên thực tế, cần phân biệt rõ thời hạn của bản tự công bố với thời hạn 12 tháng của phiếu kết quả kiểm nghiệm được sử dụng tại thời điểm lập hồ sơ. Vậy bản tự công bố sản phẩm có hết hạn không và trong những trường hợp nào doanh nghiệp phải công bố lại? Bài viết dưới đây FOTEKCO sẽ giúp bạn hiểu rõ về câu hỏi trên.

Bản tự công bố sản phẩm có thời hạn là bao lâu?
1. Tự công bố sản phẩm là gì?
Tự công bố sản phẩm là thủ tục do tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu thực phẩm chủ động thực hiện trước khi đưa sản phẩm ra lưu thông trên thị trường.
Theo đó, doanh nghiệp chuẩn bị bản tự công bố cùng các tài liệu liên quan, thực hiện công khai thông tin sản phẩm trên phương tiện thông tin đại chúng, website hoặc niêm yết tại trụ sở. Đồng thời, doanh nghiệp gửi một bản hồ sơ đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để tiếp nhận và lưu trữ theo quy định.
Khác với thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm, tự công bố không phải là hình thức xin cơ quan nhà nước cấp phép hoặc phê duyệt hồ sơ. Sau khi hoàn tất thủ tục, doanh nghiệp được quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm và phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin đã công bố, chất lượng cũng như mức độ an toàn của sản phẩm.
2. Những sản phẩm nào phải thực hiện tự công bố?
Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, các nhóm sản phẩm thuộc diện tự công bố gồm:
- Thực phẩm đã qua chế biến, bao gói sẵn: Chẳng hạn như bánh kẹo, cà phê, nước giải khát, nước uống đóng chai, thực phẩm đóng hộp và nhiều sản phẩm chế biến sẵn khác.
- Phụ gia thực phẩm: Bao gồm các chất được sử dụng trong quá trình sản xuất, chế biến nhằm tạo màu, tạo ngọt, bảo quản, ổn định cấu trúc hoặc hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm.
- Chất hỗ trợ chế biến thực phẩm: Ví dụ như bột trợ lọc, dung dịch dùng trong quá trình rửa hoặc xử lý nguyên liệu thực phẩm và một số sản phẩm hỗ trợ khác.
- Dụng cụ chứa đựng thực phẩm: Chẳng hạn như tô, chén, đĩa, ly, hộp và các vật dụng được sử dụng để chứa thực phẩm.
- Vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm: Ví dụ như màng bọc thực phẩm, giấy bạc, túi đựng bánh, hộp đựng thực phẩm và các loại bao bì tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm.
3. Bản tự công bố sản phẩm có thời hạn là bao lâu?
Theo quy định đang được áp dụng (Nghị định 15/2018/NĐ-CP) bản tự công bố sản phẩm không có thời hạn cố định. Doanh nghiệp không phải thực hiện gia hạn hoặc tự công bố lại định kỳ sau 3 năm hay 5 năm. Hồ sơ đã công bố có thể tiếp tục được sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh nếu thông tin và thành phần của sản phẩm không thay đổi.
Doanh nghiệp cần phân biệt thời hạn của bản tự công bố với thời hạn của phiếu kết quả kiểm nghiệm. Theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP, tại thời điểm nộp hồ sơ, phiếu kiểm nghiệm an toàn thực phẩm phải được cấp trong vòng 12 tháng. Quy định này chỉ áp dụng đối với phiếu kiểm nghiệm dùng để lập hồ sơ, không đồng nghĩa bản tự công bố chỉ có hiệu lực trong 12 tháng.
Thông tin bản công bố có thời hạn 3 năm hoặc 5 năm xuất phát từ quy định cũ tại Điều 8 Nghị định 38/2012/NĐ-CP. Theo đó, thời hạn đăng ký lại là 5 năm đối với sản phẩm của cơ sở có chứng nhận HACCP, ISO 22000 hoặc tương đương và 3 năm đối với cơ sở không có các chứng nhận này. Tuy nhiên, Nghị định 38/2012/NĐ-CP đã được thay thế nên quy định trên không còn áp dụng đối với bản tự công bố sản phẩm hiện nay.
▶ Tóm lại: Theo Nghị định 15 thì bản tự công bố sản phẩm không được quy định thời hạn cụ thể, như vậy doanh nghiệp chỉ cần thực hiện tự công bố một lần và hồ sơ sẽ tiếp tục được sử dụng trong suốt quá trình lưu hành sản phẩm, miễn là tên sản phẩm, xuất xứ và thành phần cấu tạo không thay đổi.
Đối với Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm được cấp trước khi Nghị định 15/2018/NĐ-CP có hiệu lực, doanh nghiệp được tiếp tục sử dụng đến khi hết thời hạn ghi trên giấy và hết thời hạn sử dụng của sản phẩm.
Mặc dù không phải gia hạn định kỳ, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện tự công bố lại khi sản phẩm thay đổi về tên sản phẩm, xuất xứ hoặc thành phần cấu tạo. Đối với những thay đổi khác, doanh nghiệp gửi văn bản thông báo đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và được tiếp tục sản xuất, kinh doanh sau khi gửi thông báo.




